July 1, 2019 | By Josh Bonifield

The Disappearing Delta: Vietnam’s Mekong Delta

By Josh Bonifield

Sandwiched between two rapidly intensifying environmental hazards, Vietnam’s fragile, low-lying Mekong Delta grapples with how to balance increased agricultural development with mitigating the impact of these looming threats. Producing more than half of Vietnam’s rice crop, the Delta is vital to Vietnam’s food security and underpins the prosperity of the nation writ large. While the region sits directly at sea level, the Delta is home to approximately 19 percent of Vietnam’s population and accounts for 12 percent of the nation’s total land. The Delta, at the mouth of the Mekong River, owes both its existence and sustenance to the silt carried downstream by the river which also helps sustain parts of Tibet, China, Laos, Myanmar, and Thailand. As the Mekong River empties into the South China Sea it deposits silt which builds and maintains the landscape of the Delta region. Upstream development, dams, and industry, however, threaten the Delta’s existence.

Heading upstream on the Mekong River, dam development on both the Mekong’s tributaries and mainstream, as well as water diversion programs for irrigation, are prevalent and expanding rapidly. These upstream dams have provided incredible benefits to the nations that built them, but cause serious environmental problems downstream in the Delta. Everything in the Delta, from agricultural practices to the integrity of the silt-based soil, requires an uninhibited Mekong: fast runoff, large volumes of fresh water, reliable flow during the dry season, unencumbered fish migrations, and a steady flow of fresh silt to replenish the Delta soil lost to erosion and the sea. Dams and other upstream developments threaten all of these processes, placing the majority of the costs of Mekong River developments—and none of the benefits—on the Delta. Exacerbating the Delta’s environmental challenges is the pace of change on the river: upstream, approximately 241 dams have been built, 91 have been planned, and 29 are under construction. Collectively, the scale and pace of change are proving too much for Vietnam to adapt to, and its once fertile land is facing extreme erosion.

Climate-change induced sea level rises are also putting pressure on the Delta, causing widespread agricultural and economic losses. Sea levels are expected to rise 45-75 cm by 2090 and it is predicted that a rise of only 30 cm will result in a loss of 200,000 hectares of rice cultivation. Deep saltwater intrusion due to sea level rise leaves farmers with few options: either vacate their land, suffer diminishing yields, or shift production altogether. The increased salinity has affected drinking water, irrigation, and aquaculture, leaving people no choice but to extract groundwater which only accelerates salinization and negatively affects food security.

The government’s initial response to these environmental challenges was an increase in construction of sea dikes to limit saltwater intrusion, and to adapt by introducing saltwater resistant crops to farmers. These responses are important, but incomplete; what is needed is a holistic plan to address the causes, not just the effects, of the Delta’s degradation. To this end, The Mekong Delta Plan, a joint effort of the Vietnamese and Netherlands governments in 2014, outlines a few potential solutions. However, little of the plan has been implemented, leaving the future of the Delta in question.

Vietnam has no control or say over the upstream developments that are disproportionately affecting the Delta. Approval to construct dams are negotiated independently, without consulting downstream nations. There are two steps, however, that can be taken to help mitigate the consequences of upstream developments. The first would be active foreign policy that further builds upon the 1995 Mekong River Agreement. Updates could include more intensified collaboration between all nations affected by the river as well as annual meetings to discuss the state of the river and sustainable development. The second step should be the optimization and maximization of the natural sedimentation already in the Delta, in case upstream developments continue to halt sediment from reaching the Delta.

Combating climate change-induced sea level rise requires a creative, systemic, multi-faceted approach that goes beyond mere policy implementation. In addition to the necessary sea dikes, supporting and stimulating a diverse agricultural sector that focuses on resource utilization will allow the Delta to become more resilient. Establishing agriculture-based research and development focused on projected climate change impacts would allow the Delta to be proactive and resilient. Many projects in progress and already implemented have taken these proactive approaches. Coastal canals, funded by the government, have been approved for construction and will combat salinization and also serve as an evacuation route during natural disasters. Another project focused on adaption to saltwater intrusion, has created a transition model to switch farmers from exclusive rice production to a combination of aquaculture and rice production. This has allowed farmers to adapt to the changing environment while also increasing their incomes. In spite of these individual examples of progressive policies, much remains to be done.

Vietnam has made demonstrable steps towards addressing its environmental challenges, but actions are still needed to ensure true sustainability is achieved. People's livelihoods have been and will continue to be put at risk, along with the nation’s food security. Within this daunting challenge, however, lies a singular opportunity: Vietnam has the potential to show the world how to best combat the effects of climate change through sensible, forward-thinking environmental mitigation.

Translator: Trần Thành Biết and Phan Trần

Bị kẹp giữa hai hiểm họa môi trường đang diễn biến ngày một xấu đi nhanh chóng, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vốn thấp trũng và dễ tổn thương, đang phải vật lộn để cân bằng giữa việc tăng cường phát triển nông nghiệp và việc giảm thiểu tác động của những mối đe dọa ngày càng rõ này. Là vùng sản xuất hơn một nửa sản lượng lúa toàn quốc, Đồng bằng sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng đối với an ninh lương thực của Việt Nam và nói rộng ra là nền tảng cho sự thịnh vượng của quốc gia này. Dù nằm sát mực nước biển, Đồng bằng sông Cửu Long lại là nơi cư ngụ của khoảng 19% dân số và chiếm 12% tổng diện tích Việt Nam. Khu vực này, với vị trí cửa sông Mê Kông, được tạo thành và duy trì nhờ lượng phù sa đổ về từ thượng nguồn (vốn cũng giúp bồi đắp một phần Tây Tạng, Trung Quốc, Lào, Myanmar và Thái Lan). Khi sông Mê Kông đổ ra Biển Đông, nó bồi lắng phù sa giúp tạo ra và duy trì vùng Đồng bằng. Tuy nhiên, sự phát triển ở thượng nguồn, đập nước và các khu công nghiệp đang đe dọa sự tồn tại của khu vực này.

Hướng về thượng nguồn Mê Kông, việc xây dựng đập nước ở cả nhánh chính lẫn phụ lưu cùng các chương trình dẫn nước cho thủy lợi là rất phổ biến và đang được mở rộng nhanh chóng. Các con đập thượng nguồn này mang lại lợi ích đáng kể cho các quốc gia xây dựng chúng, nhưng lại gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng cho vùng Đồng bằng tại hạ lưu. Mọi thứ ở đồng bằng từ các hoạt động nông nghiệp đến sự toàn vẹn của đất phù sa đều đòi hỏi một dòng Mê Kông chảy thông suốt: dòng chảy nhanh, lưu lượng nước ngọt lớn, ổn định trong mùa khô, các đợt di cư không trở ngại của cá và dòng phù sa mới để bổ sung vào lượng đất đồng bằng mất do xói mòn và do tác động của biển. Những con đập và các phát triển khác ở thượng nguồn đều tác động xấu đến các quá trình này, bắt Đồng bằng sông Cửu Long phải trả giá chủ yếu cho những phát triển trên sông Mê Kông mà không nhận lại được bất kỳ lợi ích nào. Càng khiến các thách thức môi trường đối với vùng Đồng bằng trở nên nghiêm trọng hơn là tốc độ biến đổi của dòng sông: ở thượng nguồn có khoảng 241 con đập đã xây dựng xong, 91 cái đã lên kế hoạch, và 29 cái đang xây dựng. Nhìn tổng thể, quy mô và tốc độ thay đổi này đang trở nên quá mức thích nghi cho Việt Nam, và vùng đất màu mỡ một thời của đất nước này đang phải đối mặt với hiện tượng xói mòn cực kỳ nghiêm trọng.

Mực nước biển tăng do biến đổi khí hậu cũng đang gây áp lực lên vùng Đồng bằng, dẫn đến nhiều thiệt hại về nông nghiệp và kinh tế trên diện rộng. Mực nước biển dự kiến ​​sẽ tăng 45-75 cm vào năm 2090, và các dự báo cho rằng chỉ cần mức tăng 30 cm sẽ dẫn đến việc mất đi 200.000 ha canh tác lúa. Xâm nhập mặn sâu do mực nước biển dâng cao đặt người nông dân trước rất ít lựa chọn: hoặc bỏ đất, chịu giảm sản lượng, hoặc hoàn toàn chuyển sang phương thức sản xuất khác. Độ mặn tăng lên đang ảnh hưởng đến nước uống, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản, khiến người dân không còn lựa chọn nào khác ngoài khai thác nước ngầm, mà điều này chỉ làm tăng tốc độ nhiễm mặn và tác động tiêu cực đến an ninh lương thực.

Phản ứng ban đầu của chính phủ đối với những thách thức môi trường này là tăng cường xây dựng đê biển để hạn chế xâm nhập mặn và để thích nghi bằng cách giới thiệu cây trồng kháng mặn cho nông dân. Những phản ứng này là rất quan trọng, nhưng không đủ; điều cần thiết là một kế hoạch tổng thể hướng đến nguyên nhân chứ không chỉ là hệ quả của hiện tượng suy thoái này. Để xử lý dứt điểm vấn đề này, Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long, một nỗ lực chung giữa chính phủ Việt Nam và Hà Lan vào năm 2014, đã phác thảo một vài giải pháp tiềm năng. Tuy nhiên, phần nhiều kế hoạch chưa được thực hiện, khiến tương lai vùng Đồng vẫn là một dấu chấm hỏi.

Việt Nam không thể kiểm soát được những phát triển ở thượng nguồn vốn đang ảnh hưởng sâu sắc đến vùng Đồng bằng. Phê duyệt xây dựng các đập được đàm phán độc lập mà không cần tham khảo ý kiến ​​các quốc gia ở hạ nguồn. Tuy nhiên, có hai bước khả thi để giúp giảm thiểu hậu quả của sự phát triển trên thượng nguồn. Thứ nhất là chính sách đối ngoại tích cực xây dựng dựa trên Thỏa thuận Sông Mê Kông năm 1995. Các điều chỉnh bổ sung có thể bao gồm sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa tất cả các quốc gia bị ảnh hưởng cũng như các cuộc họp thường niên để thảo luận về tình trạng của dòng sông và phát triển bền vững. Bước thứ hai là tối ưu hóa và tối đa hóa sự bồi lắng tự nhiên đã có ở vùng Đồng bằng, trong trường hợp sự phát triển ngược dòng tiếp tục cản trở phù sa về đây.

Chống lại sự gia tăng mực nước biển do biến đổi khí hậu đòi hỏi một cách tiếp cận sáng tạo, có hệ thống và đa diện, vượt khỏi khuôn khổ việc thực hiện chính sách một cách đơn thuần. Ngoài các đê biển cần yếu, công tác hỗ trợ và thúc đẩy một vùng nông nghiệp đa dạng tập trung vào việc tận dụng tối đa tài nguyên sẽ giúp vùng đồng bằng trở nên mạnh mẽ hơn. Các nghiên cứu và phát triển trên nền tảng nông nghiệp với tập trung vào các những tác động của biến đổi khí hậu có thể xảy ra ​​sẽ cho phép vùng Đồng bằng trở nên chủ động và khó bị tổn thương hơn. Nhiều dự án, cả đang được tiến hành và đã hoàn tất, đã sử dụng những cách tiếp cận chủ động này. Nhiều kênh đào ven biển do chính phủ tài trợ đã được phê duyệt xây dựng để chống nhiễm mặn và cũng đóng vai trò tuyến đường sơ tán trong thiên tai. Một dự án khác, tập trung vào thích nghi với xâm nhập mặn, đã tạo ra một mô hình chuyển đổi giúp nông dân chuyển từ độc canh cây lúa sang kết hợp canh tác lúa với nuôi trồng thủy sản. Điều này đã cho phép nông dân làm quen với môi trường mới, đồng thời tăng thêm thu nhập cho họ. Mặc dù có những ví dụ cá biệt về các chính sách tiến bộ như vậy, việc làm được vẫn còn rất hạn chế.

Việt Nam đã thực hiện một số bước rõ ràng nhằm giải quyết các thách thức môi trường của mình, nhưng vẫn cần có nhiều hành động để đảm bảo đạt được sự bền vững thực sự. Đời sống của người dân cùng với an ninh lương thực quốc gia đã và sẽ tiếp tục gặp rủi ro,. Tuy vậy, trong thách thức khó khăn này tồn tại một cơ hội: Việt Nam có tiềm năng cho thế giới thấy giải pháp tối ưu chống lại các tác động của biến đổi khí hậu thông qua việc giảm thiểu, một cách hợp lý và tiến bộ, các tác động của môi trường.

 

About

The Global Food and Agriculture Program aims to inform the development of US policy on global agricultural development and food security by raising awareness and providing resources, information, and policy analysis to the US Administration, Congress, and interested experts and organizations.

The Global Food and Agriculture Program is housed within the Chicago Council on Global Affairs, an independent, nonpartisan organization that provides insight – and influences the public discourse – on critical global issues. The Council on Global Affairs convenes leading global voices and conducts independent research to bring clarity and offer solutions to challenges and opportunities across the globe. The Council is committed to engaging the public and raising global awareness of issues that transcend borders and transform how people, business, and governments engage the world.

Support for the Global Food and Agriculture Program is generously provided by the Bill & Melinda Gates Foundation.

Blogroll

1,000 Days Blog, 1,000 Days

Africa Can End Poverty, World Bank

Agrilinks Blog

Bread Blog, Bread for the World

Can We Feed the World Blog, Agriculture for Impact

Concern Blogs, Concern Worldwide

Institute Insights, Bread for the World Institute

End Poverty in South Asia, World Bank

Global Development Blog, Center for Global Development

The Global Food Banking Network

Harvest 2050, Global Harvest Initiative

The Hunger and Undernutrition Blog, Humanitas Global Development

International Food Policy Research Institute News, IFPRI

International Maize and Wheat Improvement Center Blog, CIMMYT

ONE Blog, ONE Campaign

One Acre Fund Blog, One Acre Fund

Overseas Development Institute Blog, Overseas Development Institute

Oxfam America Blog, Oxfam America

Preventing Postharvest Loss, ADM Institute

Sense & Sustainability Blog, Sense & Sustainability

WFP USA Blog, World Food Program USA

Archive




| By Marshall M. Bouton

India's Mandate for Agricultural Reform

Chicago Council President Emeritus Marshall M. Bouton discusses challenges facing Indian agriculture and potential reforms to meet the government's goal of doubling farmer incomes by 2022.